Tập đoàn điện tử Samsung Electronics đã đi một bước dài trong hoạt động kinh doanh để được thị trường chấp nhận. Tập đoàn Hàn Quốc này trải qua hơn một thập kỷ phấn đấu trở thành hãng điện tử hàng đầu về sản xuất chip DRAM và bộ nhớ flash và là hãng sản xuất chip lớn thứ hai trên thế giới. Hãng điện tử Samsung còn là nhà sản xuất hàng đầu về tivi màu, màn hình máy tính và màn hình TFT-LCD cũng như là nhà xuất điện thoại di động thứ ba trên thế giới.
Vị trí đứng đầu của tập đoàn xuất phát chủ yếu từ việc đầu tư rất mạnh vào một số lĩnh vực quan trọng. Nhưng sự thành công của Samsung không phải hoàn toàn là do sự đầu tư khổng lồ hơn so với đối thủ mà còn do tập trung hơn nữa vào hoạt động thiết kế sản phẩm, marketing, chuyên môn đối với các sản phẩm như tivi LCD, điện thoại. Quản trị chuỗi cung ứng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp công ty đạt được vị trí như hiện nay. Mặc dù, đó chỉ là một trong nhiều yếu tố nhỏ góp phần nên thành công của công ty trong khi những tăng trưởng đạt được gần đây chính là sự cải thiện đáng kể về nỗ lực của tập đoàn trong quan hệ với khách hàng và sự thích ứng nhanh chóng với thay đổi của thị trường cùng với việc hoạch định và kết hợp các chức năng khác như kinh doanh, sản xuất, phân phối sản phẩm của công ty.
Ông Woosik Chu, phụ trách quan hệ đầu tư của tập đoàn nói rằng đóng góp của quản trị chuỗi cung ứng không thực sự được thể hiện rõ ràng ra bên ngoài nhưng đóng góp của hoạt động này chiếm một phần rất quan trọng trong thành công của công ty.
Những qui trình mới
Ông Won-Joon Hyoung, nguyên giám đốc chuỗi cung ứng của hãng, cho biết rằng công ty đã gặp khó khăn trong những năm thập niên 1990 khi phối hợp chức năng hoạch định và logistics vào những hoạt động sản xuất và kinh doanh khắp mạng lưới trên 40 quốc gia. Vì vậy, trong năm 1994 hãng đã nhờ các công ty tư vấn bên ngoài thiết kế những qui trình mới trong việc quản lý những hoạt động này.
Bước đi đầu tiên là triển khai phần mềm hoạch định tài nguyên (ERP) R/3 của công ty Đức SAP AG, cho phép những nhân viên dễ dàng tiếp cận vào những thông tin tài chính chung của công ty. Nhưng tính phức tạp về cơ cấu kinh doanh của Samsung cuối cùng dẫn đến cài đặt hơn 60 hạng mục khác nhau của phần mềm SAP trên khắp các đơn vị kinh doanh và chi nhánh toàn cầu của công ty.
Theo Hyoung thì hệ thống ERP thiếu những công cụ hoạch định toàn cầu tập trung cần thiết do đó dẫn đến nhiều xung đột và sự không hài lòng.
Trong năm 1997, Samsung đã mua thêm phần mềm hoạch định của công ty i2 Technologies Inc. (Dallas) để triển khai cho hai bộ phận kinh doanh của tập đoàn. Hyoung là người quản lý dự án này cho biết sau 6 tháng triển khai vội vã đã thu lại một số lợi ích đáng kể. Chính vì kết quả như vậy, các nhà lãnh đạo hàng đầu của Samsung đã bị thuyết phục về hiệu quả của phần mềm này và yêu cầu triển khai nhanh hơn nữa cho toàn bộ hệ thống công ty tại Hàn Quốc.
Trước năm 1999, Samsung đã loại bỏ khoảng 3 tỷ đôla trị giá tồn kho và chi phí khoản phải thu. Và hiệu quả đem lại cũng rõ rệt. Từ năm 1999 đến 2004 doanh thu của tập đoàn tăng hơn 120% trong khi tồn kho và khoản phải thu chỉ tăng 25%.
Hiện tại, ngoài hệ thống SAP R/3, Samsung sử dụng khoảng hơn 12 chức năng của phần mềm i2, bao gồm những chức năng sử dụng trong hoạch định chuỗi cung ứng toàn cầu , hoạch định sản xuất, quản lý nhu cầu, thực hiện đơn hàng, quản lý vận tải. Một trong những bổ sung mới nhất là phần mềm i2 quản lý quan hệ nhà cung cấp được Samsung triển khai trong tất cả 14 bộ phận trong năm 2004 cho phép hãng xem xét và phân tích khoản chi tiêu 16 tỷ đôla xuyên suốt 30 hạng mục của SAP. Hyoung sau đó rời Samsung và trở thành chủ tịch công ty i2 vào năm 2000, đứng đầu một nhóm những nhà tư vấn làm việc trực tiếp với 90 nhân viên của Samsung để hỗ trợ và gia tăng giá trị của những công cụ này.
Phản hồi nhanh chóng
Lĩnh vực kinh doanh thiết bị bán dẫn của Samsung đem lại 16 tỷ đôla và chiếm gần 60% lợi nhuận trong năm 2004 và đưa ra cái nhìn thấu đáo hơn về quản trị chuỗi cung ứng của công ty. Giám đốc bộ phận cải tiến qui trình, ông Eric Chang-Sup Han nói rằng hãng tập trung vào việc phản ứng lại một cách nhanh chóng với những thay đổi của điều kiện thị trường. Samsung thường không có hệ thống quản trị tồn kho hoạt động trơn tru. Năm 1998, hãng buộc phải đóng cửa một trong những nhà máy chính trong vòng hai tháng thời kỳ khủng hoảng tài chính Châu Á do những sản phẩm TV và sản phẩm khác bị ế và chất đống trong kho.
|
Bốn bước Samsung đã thực hiện để cải thiện chuỗi cung ứng:
1. Sử dụng những đối tác chiến lược. Samsung hoàn toàn tin cậy vào những nhà tư vấn và nhà cung cấp bên ngoài như SAP và i2 để sửa đổi toàn bộ hệ thống IT không phù hợp. 2. Chia sẻ dữ liệu. Công ty đã triển khai nhiều hệ thống và phần mềm như hoạch định chuỗi cung ứng, phần mềm quản trị quan hệ nhà cung cấp, hoạch định hợp tác, cổng thông tin, trung tâm điều hành toàn cầu để chia sẻ thông tin rộng khắp và nhanh chóng trong toàn tập đoàn và cho những khách hàng quan trọng. 3. Ưu tiên đối tượng khách hàng. Samsung sẽ xếp hạng về mức độ quan trọng của từng khách hàng và sẽ có những qui chế đặc biệt dành cho những khách hàng quan trọng nhất. 4. Thuê ngoài khi cần thiết. Sản xuất và thiết kế sẽ do chính Samsung thực hiện nhưng cũng đã dần thực hiện thuê ngoài một số chức năng chủ yếu như vận chuyển và logistics.
|
Giờ đây, vấn đề tồn kho của Samsung đã được giải quyết nhờ nhiều năm nỗ lực điều chỉnh hoạt động chuỗi cung ứng. Thực vậy, vấn đề lớn nhất gần đây là làm thế nào tạo ra đủ sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường đang tăng trưởng một cách chóng mặt.
Chang-Gyu Hwang, giám đốc điều hành mảng kinh doanh thiết bị bán dẫn của Samsung nói rằng hãng may mắn có thể đáp ứng được ngày càng nhiều nhu cầu của khách hàng. Và theo Jon Kang, phó chủ tịch về marketing kỹ thuật của bộ phận thiết bị bán dẫn, cho biết thêm tồn kho của công ty có thể ở mức thấp nhất trong ngành công nghiệp này. Tồn kho duy nhất mà Samsung thỉnh thoảng có chính là hàng hóa nằm trên máy bay trong quá trình vận chuyển.
Mỗi một đơn vị kinh doanh trọng yếu của Samsung đều có một trung tâm khai thác toàn cầu để theo dõi cung cầu của sản phẩm. Tại trung tâm khai thác của bộ phận kinh doanh thiết bị bán dẫn tại Hàn Quốc, những nhà hoạch định điều chỉnh nhu cầu của khách hàng được dựa trên thông tin từ bộ phận kinh doanh và những ràng buộc về nguồn cung của bộ phận sản xuất của công ty. Những nhà hoạch định này hoạt động độc lập và có thẩm quyền trong việc tham khảo ý kiến với cấp lãnh đạo cao nhất để điều chỉnh những dự báo sản xuất và dịch chuyển công suất giữa các dây chuyền sản xuất của công ty. Họ dễ dàng điều chỉnh số lượng nhập liệu vào mỗi một dây chuyền sản xuất. Sự linh động này giúp công ty phản hồi nhanh chóng với những cơ hội của thị trường và tránh gây ra tồn kho dư thừa.
Dan Hutcheson, chủ tịch công ty VLSI Research Inc. (San Jose, Calif.), nói rằng một yếu tố quan trọng khác tác động đến khả năng điều chỉnh của Samsung là hệ thống sản xuất hiệu quả tuyệt đối. Ông nói công ty có thể hoàn thành sản phẩm DRAM chip chỉ trong vòng 21 ngày, ngắn hơn phân nửa thời gian ra sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy đã tạo nên lợi thế cạnh tranh về hệ thống. Thời gian chu kỳ ngắn hơn thì công ty dễ dàng phản ứng lại với những dịch chuyển trong các điều kiện của thị trường. Sứ mệnh đầu tiên của bộ phận chuỗi cung ứng của Samsung là cung cấp dịch vụ khách hàng xuất sắc. Nếu công ty cam kết với khách hàng thì công ty phải ưu tiên số một tuân theo cam kết đó. Nhưng không phải tất cả khách hàng đều được đối xử như nhau. Mỗi một đối tượng khách hàng sẽ được xem xét theo mức độ quan trọng đối với công ty.
Mối liên kết với khách hàng
Chất lượng dịch vụ đối với một khách hàng đã được cải thiện đáng kể chính là nhà bán lẻ hàng điện tử tiêu dùng Mỹ, Best Buy. Năm 1997, Samsung chỉ là một trong những nhà cung cấp cấp độ thấp nhất của Best Buy trong việc giao hàng theo yêu cầu. Thế nhưng đến nay Best Buy đã lấy Samsung như là khuôn mẫu cho các nhà cung cấp khác noi theo.
Best Buy và Samsung đã đạt giải thưởng của Hiệp Hội Tiêu Chuẩn Thương Mại Các Ngành Công Nghiệp về hệ thống dự báo cộng tác của hai công ty khi sử dụng những thông tin chung về nhu cầu của khách hàng và các kế hoạch khuyến mãi dự kiến để điều chỉnh lượng hàng xuất ra. Hai công ty sử dụng hệ thống hoạch định, dự báo và bổ sung theo mô hình cộng tác (CPFR) của hãng Syncra Systems Inc. để cải thiện chất lượng giao hàng đầy đủ số lượng và đúng hạn giảm tổng thời gian xuống khoảng một ngày rưỡi.
Steven Daugherty, giám đốc chuỗi cung ứng của bộ phận sản phẩm điện tử tiêu dùng khu vực Bắc Mỹ của hãng nói rằng nỗ lực ứng dụng CPFR là một phần của hệ thống mở rộng hơn về cổng thông tin cộng tác dưới tên gọi là mạng lưới kinh doanh Samsung toàn cầu (GSBN) cho phép những chi nhánh của Samsung và các đối tác kinh doanh quan trọng của công ty truy cập dữ liệu. GSBN chia sẻ những dữ liệu trong hệ thống ERP của công ty, tự động hóa việc thực hiện đơn hàng và thanh toán trong khi đó cho phép khách hàng có được những thông tin theo thời gian thực về giá cả sản phẩm, số lượng, chi tiết đơn hàng, tình trạng lô hàng vận chuyển cũng như các hoạt động về đào tạo, dịch vụ, hỗ trợ khách hàng. Nhân viên công ty có thể theo dõi doanh số, tồn kho, tình trạng hàng hóa cũng như những thay đổi về giá cả bán lẻ và các thông tin của đối thủ cạnh tranh.
Hãng Microsoft đã giúp tạo ra cổng thông tin chạy trên nền Windows và dự đoán rằng khi dự án triển khai sẽ tiết kiệm cho Samsung gần 3 triệu đôla/năm từ việc giảm hàng tồn kho và các chi phí kinh doanh và cải thiện mức độ dự báo nhu cầu và giao hàng. Hệ thống này cũng rất hữu ích trong việc theo dõi nhu cầu khách hàng và kiểm soát hoạt động theo những chỉ số đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Một công cụ quan trọng khác trong việc áp dụng công nghệ tại Samsung là hệ thống thông tin nhà kho với tên gọi là hệ thống quản trị hoạt động tích hợp theo tiêu chuẩn (SIMS) cho phép các nhà quản lý trong công ty nhanh chóng lập ra các báo cáo từ những dữ liệu trong hệ thống ERP của công ty. Trước đây phải tốn nhiều giờ đồng hồ để có được những báo cáo như vậy, thì nay chỉ cần tốn khoảng 30 giây.
Chiến lược về viễn thông
Hoạt động chuỗi cung ứng tại chi nhánh viễn thông của Samsung tại Bắc Mỹ đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh doanh viễn thông của tập đoàn từ đó hơn 100 triệu máy điện thoạt được xuất đi trên toàn cầu trong năm 2005. Chính lượng hàng vận chuyển tại khu vực này quá tăng trưởng nhanh đã buộc công ty phải điều chỉnh lại hệ thống phân phối và vận chuyển của công ty.
Trước đây sản phẩm được chuyển bằng đường hàng không đến kho của công ty tại Dallas sau đó được chuyển bằng đường bộ đến khách hàng tại khu vực Bắc Mỹ. Hiện nay, sản phẩm sẽ do nhà cung cấp dịch vụ logistics của Anh, Exel Transportation Services, thực hiện dịch vụ vận chuyển đến kho của Exel tại Los Angeles, New York và Chicago do đó giảm khoảng cách vận chuyển đến những khách hàng quan trọng của hãng. Trong suốt năm 2004, việc áp dụng cách thức mới đã làm giảm thời gian vận chuyển hàng xuống từ 6,4 ngày còn 2,3 ngày và cải thiện được tình hình giao hàng đúng hạn lên 20%. Chính việc để cho Exel thực hiện việc vận chuyển sản phẩm bằng đường hàng không và đường bộ cũng giúp cho công ty chỉ liên hệ đến một đối tác kinh doanh thay vì phải liên hệ đến nhiều đối tác.
Tuy nhiên, Samsung luôn tìm kiếm những phương cách mới để tăng hiệu quả hoạt động hơn nữa. Hickey cho rằng khách hàng của hãng ngày càng đòi hỏi nhiều hơn và muốn có nhiều sản phẩm hơn cũng như sự linh hoạt hơn trong vấn đề giao hàng. Khách hàng muốn hãng đảm bảo100% những cam kết đưa ra. Chính điều này đã tạo động lực cho công ty tìm kiếm những sáng kiến mới trong quản trị chuỗi cung ứng.
Tigana lược dịch
(Thanks Tigana Hoang Dung for the paper)

Recent Comments