Nếu bạn đang trong thời kỳ kinh tế huy hoàng, cổ phiếu tăng giá ùn ùn, người người rạng ngời, trông thật sang trọng và đẹp đẽ thì bạn hẳn sẽ luôn phấn khích với giai điệu tuyệt vời của bài hát All you need is Love của the Beatles . Nhưng tiếc thay khi tôi nói điều này thì cũng là lúc kinh tế suy thoái, cổ phiếu giảm méo mặt, lương chỉ đủ chi tiêu cơ bản..bạn hẳn sẽ phải sửa lại tựa bài hát của The Beatles là “All you need is Cash”. Đó cũng là tựa bài báo số tuần này của tờ the Economist mà tôi trích dịch với bạn dưới đây.
Cuộc tìm kiếm tuyệt vọng ngày càng lớn cho một thứ là thay đổi mô hình quản trị hiện đại-không phải lúc nào cũng là hướng tới sự tốt đẹp hơn
Hiếm khi chiến lược công ty phải quay ngoắt một cách nhanh như vậy. Vừa vặn một năm trước đây, tiền mặt là thứ nguy hiểm để tích lũy: các nhà đầu tư năng động sẽ săn lung các doanh nghiệp, thúc giục ban quản trị chuyển nó cho họ, để đổi lại là những cổ tức đặc biệt. Kể từ những năm 1980 kiểu hình mẫu này đã làm cho các công ty trở lên lean nhất có thể, thuê ngoài hết thảy trừ mỗi cái phần core competency , mở rộng hệ thống nhà cung cấp Just-in-time ra toàn cầu, trang bị thêm các khoản nợ để “leverage” bản cân đối tài chính. Các gã khổng lồ bảo thủ cũ kỹ, như Arnold Weinstock của General Electric đã sớm bị loại khỏi cuộc chơi. Các công ty tàng trữ tiền mặt –thậm chí rất tốt như Toyota và Microsoft được đưa vào danh sách nghi ngờ.
Chẳng chóng thì chày, Đối với nhiều đại gia Mỹ, cái ngày nhận thức muộn mằn đã đến chỉ hai tháng trước đây khi mà cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng lan rộng đem đến sự đổ vỡ ngỡ ngàng của thị trường các thương phiếu qua đêm. Thông điệp ngắn gọn dấy thậm chí đã đưa các công ty được gọi là khỏe mạnh nhất rơi vào tình trạng mót từng đồng tiền mặt chỉ để trả lương cho nhân viên. Kể từ đó, những nguyên tắc dẫn đường cho các nhà quản trị phổ biến ở mọi nơi mọi lúc là làm sao thu thập từng đồng tiền mặt mà họ thấy, và sau đó làm mọi cách dù bẩn thỉu nhất để giữ nó càng nhiều và càng lâu càng tốt.
Đối với một số-các ngân hàng đầu tư hay các đại gia ô tô ở Detroit- cuộc tranh giành đã thậm chí lên đến mức là việc của tất cả chúng ta chứ không phải của riêng họ nữa. Nhưng phần lớn của nỗi hoảng sợ vẫn còn chưa bộc lộ hết. Ở Anh Quốc, các gã khổng lồ khỏe mạnh cũng đang cảm thấy sao mà khó khăn để gia hạn các khoản vay. Khắp Châu Âu lục địa các kế toán viên trong tâm trạng đầy lo âu nói rằng họ cần nhìn thấy nhiều bằng chứng cái mà các công ty đang lo âu trước khi ký vào các kết khoản cuối năm. Ở Mỹ các công ty ngự trị trên Fortune 500 đang đối diện với câu hỏi từ nhà đầu tư là bao lâu tiền mặt của họ sẽ rơi đến mức báo động. Ở thung lũng Silicon, Sequoia, một công ty đầu tư mạo hiểm, gần đây đã nói với các công ty nhỏ mà họ bỏ vốn vào là cần coi mỗi đồng dollar như thế là đồng tiền cuối cùng mà họ có được, như cắt giảm việc làm, giảm quy mô tăng trưởng điều mà chưa chắc đã đem lại “dòng tiền dương”. Còn trong thế giới mới nổi cũng không miễn nhiềm được căn bệnh thiếu tiền đang lan tràn: bằng chứng có được email từ Ratan Tata gửi cho các nhà quản lý ở Ấn Độ thuộc tập đoàn Tata là họ cần đánh giá lại toàn diện các yêu cầu về dòng tiền mặt cũng như kế hoạch kinh doanh của mình.
Nghịch lý của sự tằn tiện
Việc thiếu tiền mặt là vấn đề nghiêm trong cho nền kinh tế thế giới, bởi vì khi các công ty đang cắt giảm chi tiêu tùy tiện ở bất cứ nơi nào họ có thể, sẽ dẫn đến một phiên bản công ty mà John Maynard Keynes gọi là “nghịch lý của sự tằn tiện” (bạn có thể tìm hiểu thêm về nghịch lý này tại địa chỉ http://en.wikipedia.org/wiki/Paradox_of_thrift ). Mỗi doanh nghiệp làm cái việc mà họ cho là khôn ngoan, như cắt giảm chi tiêu thì nó sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế sâu hơn và tiếp đó làm tác động đến tất cả, bao gồm cả doanh nghiệp ấy. Điều này chỉ làm tăng thêm nhu cầu một chính sách tiền tệ và tài chính mở rộng để kích cầu, và cũng đòi thêm sự hỗ trợ trực tiếp từ thị trường tín dụng, như việc Cục Dự Trữ Liên Bang cứu vớt thị trường thương phiếu qua đêm ấy mà.
Có những nhiệm vụ quan trọng cho các chính trị gia và nhà hành pháp lúc này, nhưng đối với các nhà quản trị thì nghịch lý này sẽ vận hành theo cách khác: chi tiêu tiền có thể đem lại lợi ích cho xã hội, nhưng lại không đem lại lợi ích cho cổ động. Xét tổng thể các ông chủ, những gì họ làm trong vài tháng tới sẽ quyết định phần còn lại sự nghiệp họ.
Đối với một vài ông tích trữ tiền may mắn, thì đầy là thời điểm cảm thấy tự mãn và đi săn mồi. Đến nay, Các công ty Nhật đã gây ra những thương vụ mua lại trị giá 71 tỷ USD ở hải ngoại năm 2008, một con số kỷ lục từ trước tới nay. Bill Gates nghĩ rằng công ty của ông ta có đủ tiền để tồn tại trong một năm không bán được tí hàng nào; với kho dự trữ 21 tỷ USD giúp công ty có nhiều lựa chọn hơn bình thường. Các lão gia dược phẩm giàu tiền mặt như Eli Lilly, Roche, Merck, đã từng tuyên bố rằng khủng hoảng tài chính là cơ hội ngon lành cho họ mua các công ty công nghệ sinh học ở mức giá kịch sàn. Siemens thì dự kiến còn hỗ trợ tài chính cho các khách hàng thiếu tiến nữa. Một nghiên cứu nhanh từ trường hợp Citigroup (công ty vừa mới chặt hạ 52000 cái đầu tuần rồi), cho thấy bây giờ thì cứ gã nào có tiền dồi dào thì sẽ hoạt động hiệu quả hơn các gã nợ nần chồng chất.
Còn đối với những ai không có tiền, lúc này hãy cố mà cân bằng. Trong ngắn hạn một số cách xưa cũ như trái đấy là khuấy động giá cổ phiếu có vẻ như đâm đầu vào tường. Cổ tức lớn hay mua lại cổ phiếu phải được xem như là hành động thiếu khôn ngoan (thậm chí, giá cổ phiếu như Warren Buffet có phán là rẻ đấy). Cái được coi như là bằng chứng của sự sung sức của doanh nghiệp lúc này trông có vẻ giống căn bệnh biếng ăn. Giờ đây tiền trong ngân hàng sẽ là điều kiện đầu tiên chứng minh một giấy khám sức khỏe trong sách. Cũng vậy, chuỗi cung ứng siêu lean (tinh giản) không còn được coi là ý tưởng xuất sắc, nhất là khi mà bạn phải tìm tiền mặt để giữ chân nhà cung cấp. “Just in Time” đang nhường lối cho thời của “Just in Case”.
Tắm máu hay chết từ từ?
Nhưng sẽ ngắc ngoải trong bao lâu? Cái chủ nghĩa bảo thủ mới không hoàn toàn được kích động bởi thực tế là tiền khó mà quay về; mà còn cầu cũng đang giảm đối với hầu hết các sản phẩm. Hộ gia đình và doanh nghiệp cũng vậy thôi đều phải ấn nút “Pause” , và không ai biết khi nào nó lại có thể ấn nút “play”. Dẫu sao thì các công ty cũng cần kế hoạch cho ngày ấy trở lại
Cứ mỗi khi có suy thoái, người thắng kẻ bại sẽ được quyết định không phải bởi chi phí mà họ cắt được mà cách họ cắt và trên hết thảy là những thứ không được cắt. Có một ẩn ý cho những cơn hoảng loạn mù mờ về những thứ thừa thãi. Nhiều công ty lập luận rằng một cú cắt thật đau đớn còn hơn cứ sống ngắc ngoải với cái gọi giá trị đao đức của việc cắt giảm từ từ. Nhưng những công ty có được tiếng tăm về cái quá dễ dàng sa thải nhân viên những người họ từng ca ngợi là “tài sản quý giá nhất” thì cuối cùng cũng sẽ chịu đựng đau đớn trên thị trường lao động. Một lý do tại sao thời suy thoái lại là cơ hội tốt cho việc tung ra mô hình kinh doanh mới là bởi vì các công ty hiện hữu đã từ bỏ các cơ hội tăng trưởng đầy hứa hẹn quá nhanh. Oracle và Microsoft chẳng phải là những kẻ được sinh ra trong những cơn khốn khó ấy sao.
Và sẽ có lúc khi mà sự cần thiết phải bảo vệ tiền mặt không phải quan tâm của tất cả. Trên hết thảy, thay đổi thái độ sẽ là hệ quả của khan hiếm tín dụng đối với thế giới kinh doanh.
Vietkha luoc dich tu The Economist (mọi sai sót trong quá trình dịch rất mong bạn đọc chia sẻ)


Recent Comments