Trong khi những nhà làm marketing đang loay hoay tìm kiếm những cách thức truyền thống để tìm sự khác biệt về sản phẩm của mình với đối thủ cạnh tranh thì một số khác lại đang đánh giá lại sự khác biệt này bằng cách xem xét về chi phí và chiến lược chuỗi cung ứng của mình. Sau đây là 4 nguyên tắc để cải thiện chuỗi cung ứng của công ty dưới góc độ marketing.
Nguyên tắc 1
Nguyên tắc đầu tiên là tập trung vào việc thiết kế và lựa chọn những yếu tố chung cho những dòng sản phẩm. Nguyên tắc này bắt nguồn từ ý tưởng làm sao để tối thiểu hóa những sai lệch trong việc tạo lập mỗi một nhãn hàng hoặc tạo ra một dòng sản phẩm. Trong khi yếu tố quan trọng trong marketing là làm sao tạo sự khác biệt trong sản phẩm và nhãn hàng để đáp ứng nhu cầu của từng phân khúc khách hàng cụ thể thì vấn đề làm sao cho khách hàng nhận biết được sự khác biệt này cũng quan trọng không kém. Ví dụ những yếu tố ít được khách hàng lưu ý đến như nắp xăng xe hơi, nguồn điện cung cấp trong các sản phẩm điện tử, cách đóng gói, chứa đựng sản phẩm. Trong khi nhiều nhà làm marketing đang tìm kiếm những phương cách của sự khác biệt thì nhiều công ty khác đang bắt đầu đánh giá một cách nghiêm túc giá trị của sự khác biệt này dưới phương diện chi phí của chuỗi cung ứng.
Những biện pháp chung là giảm chi phí của chuỗi cung ứng bao gồm giảm chi phí nguyên liệu, giảm sản phẩm lỗi thời, giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí tồn kho, giảm chi phí hỗ trợ sản phẩm. Việc thiết kế chuỗi cung ứng phải tính đến những yếu tố chi phí liên quan đến tồn kho nguyên liệu và sự hỗ trợ sản phẩm khi đánh giá những quyết định thiết kế sản phẩm.
Nguyên tắc 2
Nguyên tắc này tập trung vào thiết kế các module có chức năng chung trong khi đó làm giảm chi phí chuỗi cung ứng. Ví dụ module về nguồn cung cấp điện, màn hình hiển thị, hệ thống làm lạnh, đóng gói. Nguyên tắc này cho rằng những hệ thống phụ chung phải được thiết kế để đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau. Thuận lợi của nguyên tắc này là sai số của những hệ thống phụ sẽ ít hơn khi đáp ứng các chức năng khác nhau. Bất lợi của nguyên tắc này là module thường tập trung quá nhiều vào thiết kế ban đầu của sản phẩm và không đáp ứng cho những sản phẩm tiêu chuẩn cao hơn. Trong trường hợp này, các loại module đã nêu sẽ gặp khó khăn khi cạnh tranh với sản phẩm giá thấp bởi vì những đặc điểm của module này đã được thiết kế chỉ ở tầm trung bình.
Nguyên tắc module đưa ra nhiều cơ hội để giảm chi phí chuỗi cung ứng bằng cách giảm những sai lệch của những hệ thống phụ trong sản xuất, trong dự trữ nguyên liệu. Kết quả đạt được có thể là sự cắt giảm về chi phí trong thu mua, sản xuất, tồn kho, quản lý phụ kiện. Thiết kế cho chuỗi cung ứng cho biết những chi phí thực sự dành cho thiết kế các module cần phải phù hợp với tiềm năng tích lũy dài hạn liên quan đến các chức năng như thu mua, đảm bảo chất lượng, sản xuất, hỗ trợ sau bán hàng.
Nguyên tắc 3
Nguyên tắc này đề cập về tính phổ biến toàn cầu của những đặc điểm và thuộc tính sản phẩm. Trong khi việc áp dụng nguyên tắc này bị hạn chế do nhu cầu thiết kế sản phẩm để đáp ứng những đòi hỏi cụ thể của thị trường thì một vài công ty vẫn còn sử dụng những nhà cung cấp địa phương cho những bộ phận hoặc sản phẩm khác nhau dành cho thị trường nội địa. Ví dụ, việc đóng gói sản phẩm khác nhau, các mã đặc điểm sản phẩm dành cho thị trường nước ngoài khác nhau sẽ tạo ra sự phức tạp đáng kể và vì vậy làm tăng chi phí của chuỗi cung ứng. Một ví dụ khác về sự xem nhẹ nguyên tắc này là chi tiết kỹ thuật của ba loại tiêu chuẩn ghế khác nhau dùng trong một loại xe chuyên biệt, phụ thuộc vào nơi mà loại xe này được sản xuất. Kết quả là ba nhà sản xuất khác nhau sẽ có ba qui trình sản xuất khác nhau và không có sự trao đổi về sản phẩm dẫn đến sự phức tạp trong vấn đề hỗ trợ khách hàng trên phạm vi toàn cầu. Ngành công nghiệp xe hơi Bắc Mỹ trước đây đã đi theo chiến lược tương tự này. Tuy nhiên, do nhu cầu của sự thay đổi triệt để, một số công ty đã đưa ra nhiều sáng kiến tạo ra sản phẩm mang tính toàn cầu để đạt được lợi thế về qui mô trong các hoạt động như thiết kế, thu mua, sản xuất, hỗ trợ khách hàng.
Nguyên tắc 4
Nguyên tắc cuối cùng này nói về sự trì hoãn trong sản xuất và trong hoạt động logistics. Sự trì hoãn ở đây có nghĩa là trì hoãn những qui trình sản xuất và những cam kết về logistics càng lâu càng tốt trong qui trình hoàn thành đơn hàng của khách hàng. Hình thức cuối cùng của sự trì hoãn chính là qui trình xác định cấu hình để đặt hàng (CTO) tại một cở sở sản xuất cụ thể mà đã tạo nên sự thành công của hãng Dell. Nguyên tắc trì hoãn được áp dụng nhiều lần dưới hình thức sản xuất theo phương thức CTO, đóng gói hoặc xuất hàng trì hoãn từ một điểm trung tâm duy nhất (ví dụ như tại các trạm trung chuyển của DHL, FedEx, UPS). Tuy nhiên những ứng dụng của nguyên tắc này trước đây đã không thực sự tập trung vào thiết kế sản phẩm cho chuỗi cung ứng mà thay vào đó lại thiết kế chuỗi cung ứng để tận dụng những cơ hội của sự trì hoãn. Việc thiết kế cho chuỗi cung ứng nghĩa là công ty nên thiết kế sản phẩm để tạo ra những cơ hội cho sự trì hoãn thay vì thiết kế sản phẩm và sau đó xem xét hoạt động sản xuất hay logistics có thể được trì hoãn hay không. Ví dụ trường hợp máy chủ được thiết kế theo phương thức CTO. Tuy nhiên, các máy chủ này được được thiết kế quá cao dẫn đến không xếp vừa vào hầm hàng của máy bay chở khách và vì vậy phải sử dụng máy bay chở hàng để chở. Kết quả của cách thiết kế này là sẽ có ít cơ hội trong trì hoãn hoạt động logistics bởi vì khả năng phục vụ bị giảm sút trên tuyến vận chuyển hàng. Một sự thay đổi trong thiết kế sản phẩm có thể tạo ra nhiều cơ hội hơn.
Nguyên tắc của sự trì hoãn nói chung được áp dụng để cải thiện mức độ dịch vụ trong khi giảm chi phí tồn kho và chi phí do hàng hóa lỗi thời bằng cách không hoàn thành hình thức tồn kho nào hay một cách sắp xếp nào cho đến khi nhu cầu trở nên chắc chắn hơn theo một dự báo tin cậy hoặc theo một đơn hàng thực tế. Ngoài những cơ hội về dịch vụ và tồn kho thì việc thiết kế cho chuỗi cung ứng cũng nhằm thiết kế sản phẩm để thúc đẩy sự trì hoãn bằng cách cho phép sự tùy chỉnh và vận chuyển nhanh chóng trong khi tối thiểu hóa biến phí.
Kết luận
Những nguyên tắc ở trên không mới đối với những nhà quản trị chuỗi cung ứng, nhưng những nguyên tắc này lại không được nhìn nhận theo một cách chung, đặc biệt là ngoài phạm vi của các chức năng trong quản trị chuỗi cung ứng. Trước đây mỗi một nguyên tắc này là mối quan tâm hàng đầu của một trong những chức năng kinh doanh chính: 1) Marketing để tạo sự phổ biến (mặc dù thường tăng nên tính phức tạp); 2) nghiên cứu và phát triển các module; 3) kết hợp chức năng marketing, nghiên cứu và thu mua để tạo nên tính chất toàn cầu của sản phẩm; 4) quản trị chuỗi cung ứng cho sự trì hoãn. Cách nhìn độc lập này đưa ra những quyết định tồi liên quan đến sự đánh đổi chính yếu. Trong khi khái niệm “thiết kế cho…” cần xem xét nhiều sự đánh đổi chức năng chéo thì thật thú vị khi ghi nhận rằng một số lượng gia tăng những tổ chức chuỗi cung ứng đang bắt đầu sự tìm kiếm một sáng kiến như vậy. Cấu trúc chuỗi cung ứng chức năng chéo tích hợp với những chỉ số đo lường phù hợp có thể thúc đẩy việc thiết kế qui trình, sản phẩm, dịch vụ nhằm tối ưu hóa sự đánh đổi giữa tổng chi phí và chất lượng dịch vụ.
- Tigana lược dịch -

Recent Comments